Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Khám thai’ Category

Chúng tôi xin giới thiệu những món cháo, canh hỗ trợ điều trị căn bệnh hiếm muộn dành cho cả nam và nữ để bạn đọc tham khảo áp dụng.


Bài 1: Cháo gạo muối quấy mỡ: gạo lức vừa đủ, muối tinh, mỡ, bột sữa. Gạo vo sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu thành cháo. Khi cháo sắp chín thì cho vài thìa mỡ lên trên mặt cháo, rồi rắc một lượt đầy sữa bột, thêm muối, gia vị là được. Ngày ăn 1 lần. Tác dụng bổ hư, sinh dịch, thêm tinh, chữa không có thai.

Bài 2: Cháo thịt dê nhục thung dung: nhục thung dung 15g, thịt dê 100g, gạo lức 100g. Cho nước vào nhục thung dung nấu kỹ rồi bỏ bã thuốc, cho gạo đã vo sạch và thịt dê vào cùng, nấu thành cháo. Khi cháo thịt chín nhừ thì cho gừng, hành, muối vào, để ít phút là được. Nên ăn vào mùa đông khi trời lạnh. Ăn liền 5 – 7 ngày là một đợt, nghỉ 1 tuần lại ăn tiếp đợt thứ 2. Tác dụng: bổ thận, trợ dương, ích tinh huyết, thích hợp với phụ nữ muộn có con, lãnh cảm.

Bài 3: Canh xương dê: xương sống dê 1 bộ chặt vụn. Nhục thung dung 30g, thảo quả 3 quả, tất bát 6g, cả 3 vị cho vào túi vải. Cho tất cả vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu kỹ, bỏ túi thuốc ra, cho gia vị, ngũ vị hương là được. Ăn kèm trong bữa ăn. Tác dụng: bổ thận làm mạnh lưng gối, trị chứng vô sinh.

Bài 4: Canh thịt dê nấu trùng thảo: thịt dê 750g thái nhỏ, chần qua nước sôi; đông trùng hạ thảo 20g, hoài sơn 30g, câu kỷ tử 15g, gừng 6g, táo tàu 30g. Tất cả cho vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, đun to lửa, khi sôi thì đun nhỏ lửa trong 3 giờ, cho gia vị vào là được. Ăn kèm trong bữa ăn. Tác dụng: bổ can thận, ích tinh, tráng dương, trị phụ nữ đới hạ, âm lãnh không có con. Nam giới tinh trùng ít, liệt dương, xuất tinh sớm, lưng gối đau mỏi, đêm đi tiểu nhiều lần.

Bài 5: Gà ác nấu rau chân vịt: gà xương đen 1 con, rau chân vịt 60g, dầu ăn, muối tinh vừa đủ. Gà mổ bỏ ruột, rửa sạch. Rau rửa sạch. Cho cả hai thứ vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu thành canh, cho dầu, gia vị là được. Chia 2 ngày ăn kèm trong bữa ăn. Tác dụng: phá ứ huyết, thông kinh mạch, chữa khó thụ thai.


Theo SK&ĐS

 kham phu khoa , khám phụ khoa
Advertisements

Read Full Post »

Người ta đã có bằng chứng từ lâu là phụ nữ mang thai sử dụng một số thuốc có thể gây sảy thai, chết thai hoặc thai có những dị tật bẩm sinh. Theo nghiên cứu dịch tễ thì gần 2% các dị tật bẩm sinh là do thuốc mà các bà mẹ đã sử dụng trong lúc mang thai; dị tật được xác định khi thuốc gây tác hại đến cấu trúc hay chức năng của cơ quan đang hình thành.

Người ta cũng đã ghi nhận được hơn 8.000 trẻ sơ sinh bị cụt tay bẩm sinh do hậu quả mẹ dùng thuốc an thần thalidomide trong thai kỳ. Từ đó, người ta quan tâm hơn đến tính an toàn của thuốc khi sử dụng trong thai kỳ, đặc biệt về khả năng gây quái thai. Gần 2.000 loại thuốc đã được thử nghiệm trên súc vật, trong đó có 580 loại gây quái thai và 150 loại ở tình trạng nghi vấn. Nhưng có một vấn đề đặt ra là những loại thuốc gây quái thai cho súc vật có thể không gây quái thai cho người và ngược lại. Vì vậy cần rất thận trọng khi dùng thuốc cho thai phụ và bản thân thai phụ cũng cần biết những thứ thuốc này để tránh sử dụng trong thai kỳ.

Những thuốc đó là:

– Các vitamin:
Vitamin A: Liều cao dùng trong lúc mang thai sẽ gây dị dạng mặt, sọ, tim, sinh dục cho thai nhi.
Vitamin B6: Dùng kéo dài gây co giật.
Vitamin C: Liều cao có thể gây dị tật.
Vitamin D: Liều cao gây tăng huyết áp, chậm phát triển tâm thần.
Vitamin E: Dùng nhiều gây tiêu chảy cho trẻ.

– Thuốc tiêu hóa: cimetidin: gây vàng da ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc corticoid: Gây ức chế vỏ thượng thận, gây hở môi, khe vòm miệng nếu dùng kéo dài trong thai kỳ.

– Thuốc hô hấp:
Salbutamol và ephedrin làm tim thai nhanh.
Aminophyllin làm tim đập nhanh, tăng đường huyết.

– Thuốc chống ung thư:
Methotrexat, mercaptopurin gây thai chết lưu, dị tật bẩm sinh, não úng thủy, thai vô sọ, sứt môi, dị dạng chi.
Cyclophosphamid gây đẻ non, dị dạng chi, tai.

– Thuốc kháng viêm không steroid: Gây co thắt ống động mạch, viêm ruột hoại tử.

– Thuốc kháng sinh:
Penicillin: Liều cao có thể gây thai chết lưu.
Tetracyclin: Răng bị vàng, da vàng, dị hình ở chi.
Bactrim: Tăng nguy cơ vàng da ở trẻ sinh non.
Griseofulvin: Gây sảy thai và dị tật bẩm sinh.
Norfloxacin: Ảnh hưởng đến sự phát triển sụn của bào thai.
Neomycin: Gây vàng da.
Lincomycin: Ảnh hưởng đến sự phát triển của xương.
Metronidazole: Ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể của thai, gây dị dạng bẩm sinh.
Isoniazid: Gây tổn thương hệ thần kinh bào thai.
Rifampicin: Gây dị dạng xương, giảm số lượng tinh trùng ở trẻ nam.

– Thuốc ứng chế men chuyển – kháng cholinergic: gây hóa xương sọ chậm, tắc ruột, bệnh ở ống tiết niệu.

– Thuốc kháng giáp:
Methimazole – carbimazole: gây dị dạng ở mặt, hẹp lỗ mũi và thực quản, chậm phát triển trí tuệ.

– Thuốc chống động kinh:
Carbamazepin – valproate natri (VPA), gây dị dạng ở mặt, nứt đốt sống, lệch lỗ tiểu, dị dạng tim, kẽ hở vùng bụng, chậm nói, cận thị.
Trimethadion – hydantoin gây dị dạng ở hệ thần kinh trung ương, mũi kém phát triển.

– Thuốc có hoạt tính androgen:
Danazol gây thai nữ bị nam hóa.

– Thuốc hạ đường huyết:
Gây hàm lượng glucose huyết thấp ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc chữa rối loạn tâm thần:
Lithium gây nguy cơ bệnh tim cho trẻ, gây rối loạn chức năng tiêu hóa, gây đái tháo nhạt.

– Thuốc an thần:
Barbiturat: Gây rối loạn chức năng gan, dễ xuất huyết.
Meprobamat: Chậm phát triển tâm thần, dị tật tim bẩm sinh.
Diazepam: Trẻ sinh ra bị ngạt, vàng da, bú kém.
Phenergan: Ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu.
Thalidomid: Dị dạng nội tạng, các chi ngắn.

– Thuốc estrogen tổng hợp:

Diethylstibestrol gây ung thư biểu bì âm đạo, dị tật bộ phận sinh dục, tiết niệu nữ, ở nam dị dạng bộ phận sinh dục.

– Thuốc huyết học:
Warfapin: Gây dị dạng ở bộ xương, đầu nhỏ, thoái hóa thần kinh thị giác, phát triển tâm thần chậm.
Dicoumarol: Gây thai lưu và xuất huyết ở trẻ sơ sinh.

– Thuốc giảm đau:
Methadon: Gây suy hô hấp khi sinh.
Aspirin: Gây chảy máu ở trẻ sơ sinh.
Salicylat natri: Có thể gây thai chết lưu.
Indomethacin: Suy giảm chức năng thận.

– Thuốc tim mạch:

Methyl dopa: Trẻ sơ sinh có vòng đầu nhỏ.
Propanolol: Gây chậm nhịp tim thai, hạ đường huyết.
Reserpin: Làm trẻ lừ đừ, bú ít, hạ thân nhiệt.

– Thuốc sốt rét:

Quinin: Liều cao gây não úng thủy, dị dạng thận, và tứ chi, có thể gây thai chết lưu, điếc bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần.
Chloroquin: Mẹ điều trị gây điếc ở con, tổn thương võng mạc.

– Thuốc có tác dụng làm giảm hoạt tính các tuyến bã nhờn ở da và chống viêm.

Retinoid – isotretinoin – etretinat: Gây dị dạng ở thần kinh trung ương và bệnh tim.
Tóm lại phụ nữ mang thai cần hiểu biết về các thuốc có nguy cơ gây dị tật bẩm sinh để tránh sử dụng, bảo đảm an toàn thai sản.

kham phu khoa , khám phụ khoa

Read Full Post »

Túi của mẹ:

Sổ khám thai, CMND

Bàn chải, kem đánh răng, nước súc miệng

Khăn mặt, khăn tắm

Dầu gội, xà bông và sữa tắm.

Gương, lược, kẹp tóc

Quần áo trước và sau sinh, đồ lót, áo ấm, áo khoát, vớ, băng vệ sinh

Bông gòn, gối, Vaseline dưỡng môi, thoa bụng, nịt bụng

Dép mềm, thấp

Sách báo, tạp chí, cassette hoặc mp3 nghe cá nhân, vài băng dĩa nhạc yêu thích

Nước uống, nước pha sữa, bình thủy

Lương thực nhấm nháp trong khi chờ bé sanh

 Vật dụng cho bé:

 Áo, tả, bao tay, vớ, mũ, áo ấm, khăn mềm, khăn lông lớn, chăn bông

Sữa, bình sữa, bình nước

Phấn

Những đồ dùng khác:

Trà hoặc thức uống ưa thích

Tô, chén, ly, muỗng

Dầu nóng

Giấy, bút, bao thư

Quần áo, bàn chải đánh răng, vật dụng cá nhân của những người thân chăm sóc bạn

Điện thoại di động, tiền mặt, quạt tay

Danh sách người thân, bạn bè + số ĐTDĐ để thông báo tin vui

Máy ảnh hoặc máy quay phim, pin

Read Full Post »

  • Vú thường căng, nhạy cảm và lớn hơn. Mạch máu thường nổi rõ hơn. Núm vú  sậm màu. Vào tháng thứ 5 trở đi, núm vú có thể tiết ra ít sữa. Nên mặc đồ lót rộng rãi, chất liệu thóang mát như cotton, tránh chất liệu nylon.
  • Tiểu nhiều lần hơn, nhất là về đêm. Điều này giảm vào 3 tháng giữa và lại tiếp tục nhiều hơn vào cuối thai kì. Một số thai phụ có thể ra nước tiểu khi ho hoặc khi đi lại
  • Cảm giác nghén, nôn ói vào những tháng đầu, nặng hơn vào buổi sáng, có thể thấy cảm giác nóng rát vùng ngực. Nhiều bữa ăn nhỏ giúp giảm khó chịu này.
  • Tính tình dễ thay đổi.
  • Dễ mệt, buồn ngủ, thở ngắn. Điều này hay rõ nhất vào lúc mới có thai. Sau đó giảm vào những tháng giữa thai kì trở lại vào những tuần cuối thai kì. Nên nghỉ ngơi, tránh làm công việc nặng nhọc.
  • Nhức đầu cũng thường gặp khi mới có thai, thường biến mất vào tháng thứ tư, năm. Nhức đầu vào giai đọan cuối thai kì có thể là dấu hiệu nghiêm trọng, nên thông báo cho bác sĩ của bạn.
  • Da mặt có thể nám, mụn. Có thể có những vết rạn da màu đỏ ở vú, bụng, đùi, mông.
  • Táo bón, thay đổi thói quen đi cầu. Có thể bị trĩ. Nên ăn các chất xơ, trái cây, rau quả, uống nhiều nước. Vận động, đi bộ. Rửa hậu môn bằng nước ấm 3-4 lần/ ngày.
  • Giãn mạch máu chân: có thể mang vớ y khoa, nâng chân khi ngủ.
  • Chuột rút: có thể do thiếu calcium. Nên bổ xung calcium carbonate. Massage chân, thả lỏng chân, chườm nóng. Tránh căng ngón chân cái khi căng duỗi chân buổi sáng vì điều này có thể làm chuột rút
  • Đau lưng hoặc vùng xương cùng. Nên giữ tư thế thích hợp, nghỉ ngơi, massage, chườm nóng, đặt gối giữa chân khi ngủ, có thể dùng thuốc giảm đau.
  • Tăng tiết dịch âm đạo: phụ nữ có thai dễ bị nhiễm nấm.
  • Khó ngủ. Nên tập thể dục nhẹ, trước khi ngủ tắm nước ấm, uống chanh nóng hoặc sữa nóng, tránh uống cá phê hoặc ăn nhiều trước khi ngủ. Nơi ngủ tránh tiếng ồn và ánh sáng. Thở sâu, thư giãn. Massage. Ngủ đúng giờ. Tránh dùng các lọai thuốc ngủ khi có thai.
  • Phù nhẹ mu chân có thể gặp ở tháng cuối thai kì, nên báo với bác sĩ để lọai trừ phù do bệnh lí.

 

Đây chỉ là các thông tin cơ bản khi bạn đang có thai. Bé khỏe mạnh và làm mẹ an tòan là mục tiêu của chúng tôi. Hy vọng các thông tin này sẽ giúp các bạn sẵn sàng hơn. Đừng ngần ngại gọi cho chúng tôi hoặc đến khám bất cứ khi nào bạn có vấn đề hoặc thắc mắc gì.

kham phu khoa , khám phụ khoa

Read Full Post »